Học cách giả bận để luôn ở cửa trên, Đừng Quá Tốt, Đừng Quá Rảnh, Đừng Quá Sẵn Sàng

8:19:00 AM

 Trong dòng chảy hối hả và đầy toan tính của nhân sinh, người ta thường cố khoác lên mình chiếc áo gấm của sự giàu sang, hoặc cố phô diễn cái tài hoa xuất chúng để mưu cầu sự nể trọng từ thế gian. Thế nhưng, bậc trí giả lội ngược dòng đời lại chọn cho mình một lối sống nghe qua đầy nghịch lý, thậm chí nhuốm màu vị kỷ: Họ học cách "giả bận". Họ không giả giàu để chuốc lấy sự ghen tị, không giả giỏi để gánh vác việc thiên hạ, thứ họ thủ thế chính là một ranh giới vô hình nhưng kiên cố. Nếu lặng lòng quan sát thật kỹ thế thái nhân tình, ta sẽ phát hiện ra đây không phải là một thủ thuật giao tiếp tầm thường, mà là một mật mã sinh tồn sâu sắc nhất của nhân tính. Đã bao giờ, trong một đêm muộn thanh vắng, bạn tự nhìn vào lòng bàn tay chai sần và tự hỏi tại sao có những người làm lụng đến vắt kiệt thanh xuân, gánh vác giang sơn của kẻ khác nhưng chưa bao giờ nhận được một ánh nhìn trân trọng? Tại sao lại có những người dường như thong dong, làm ít hơn, nhưng mỗi lời họ thốt ra lại có sức nặng ngàn cân, khiến vạn người nể phục? Tại sao có những người ngày nào cũng tất bật ngược xuôi, mở lòng bao dung cứu giúp vạn trạng thiên hạ, để rồi cuối cùng chỉ nhận lại những lời ra lệnh, sai khiến như một lẽ đương nhiên? Trong khi đó, có những người dường như chẳng bao giờ xuất hiện đúng lúc người khác cần, họ giữ một khoảng cách vừa đủ xa, một sự im lặng vừa đủ lạnh, vậy mà lạ thay, ai ai cũng khách khí với họ, ai ai cũng phải dè chừng, cân nhắc từng câu chữ khi muốn mở lời nhờ vả. Sự khác biệt nghiệt ngã ấy không nằm ở thiên tư tài năng, cũng chẳng hoàn toàn nằm ở địa vị xã hội, mà nó nằm ở một tọa độ tinh vi hơn nhiều: Cách thế gian nhìn nhận và định giá trị của bạn.



Cổ nhân từng để lại một đúc kết thấm đẫm vết thương thời gian rằng "Nhan nhân đa sự, quý nhân đa vụ". Kẻ bị xem là rảnh rỗi, có gương mặt lúc nào cũng sẵn sàng đón nhận, thì chuyện gì trên đời này cũng đổ lên đầu họ; người được xem là tôn quý, có cuộc đời mang trọng tâm riêng, thì ai ai cũng ngại làm phiền, sợ chạm vào sự bận rộn của họ. Đây không đơn thuần là một câu châm ngôn để chiêm nghiệm lúc trà dư tửu hậu, đây là một quy luật âm thầm, lạnh lùng, đang vận hành trong hầu hết các mối quan hệ giữa người với người, từ công sở, bạn bè cho đến cả những người ruột thịt. Hãy nhìn thẳng vào sự thật phũ phàng rằng người tốt thường bị nhờ vả nhiều nhất, người nhiệt tình thường bị lợi dụng triệt để nhất, người luôn trả lời tin nhắn ngay lập tức thường bị xem là kẻ không có việc gì để làm, và người lúc nào cũng sẵn sàng chìa tay ra gánh vác, thường là người bị giao thêm những phần việc nặng nề nhất. Vòng xoáy ấy bắt đầu rất dịu dàng bằng những lời cảm ơn chân thành, bằng ánh mắt xúc động, nhưng lòng biết ơn của con người là thứ tài nguyên có hạn và dễ bốc hơi nhất trên đời. Sau một vài lần, người ta quen dần với sự bao bọc ấy, họ mặc định rằng đó là vùng an toàn của họ, rồi dần dần, theo một quán tính tâm lý đáng sợ, họ xem sự hy sinh của bạn là trách nhiệm, là nghĩa vụ hiển nhiên mà bạn phải thực hiện. Và rồi bi kịch hạ màn bằng một kịch bản đau lòng nhất: Nếu một ngày bạn quá mệt mỏi, bạn kiệt sức, hoặc đơn giản là bạn muốn dành thời gian cho chính mình và cất lời từ chối, chính những người từng nhận nhiều lợi ích từ bạn nhất, chính những người từng cười nói với bạn nhiều nhất, lại là những người quay lưng, bày tỏ thái độ khó chịu, oán trách và tổn thương bạn sâu sắc nhất. Họ quên mất mười lần bạn giúp, họ chỉ nhớ duy nhất một lần bạn nói "Không".

Đây là điều khiến biết bao tâm hồn lương thiện ngoài kia ngã quỵ mà không thể hiểu nổi. Họ ngây thơ nghĩ rằng thế giới này vận hành theo định luật bảo toàn lòng tốt, chỉ cần mình tử tế hơn một chút, chăm chỉ hơn một chút, nhiệt tình quên mình một chút thì sẽ được yêu quý hơn, nhưng thực tế phũ phàng lại luôn xô đẩy họ theo hướng ngược lại. Bởi vì hệ thống nhận thức của con người bị chi phối bởi một bản năng là khi một thứ gì đó xuất hiện quá thường xuyên, bộ não sẽ tự động ngừng trân trọng nó. Khi một người luôn có mặt, thiên hạ sẽ mặc định rằng người ấy phải có mặt. Khi một người luôn sẵn sàng, thiên hạ sẽ vô thức đưa ra một kết luận tàn nhẫn rằng người này chắc chẳng có việc gì quan trọng hơn để làm, cuộc đời của họ chắc trống rỗng và rẻ rúng lắm nên mới dâng hiến thời gian dễ dàng đến thế. Thế nên, đôi khi thứ làm giảm sút giá trị của bạn trong mắt người đời không phải là năng lực chuyên môn thấp kém, không phải là một nhân cách tồi tệ, mà chính là sự hiện diện quá dễ dàng, một sự sẵn có đến mức rẻ mạt. Hãy nhìn vào bức tranh toàn cảnh của cuộc sống hiện đại ngày nay, một người vừa nhận được tin nhắn đã lập tức bấm trả lời trong vài giây, phần lớn trong thâm tâm người nhận sẽ nghĩ rằng bạn đang rảnh rỗi và thời gian của bạn không có giá trị. Một nhân viên trong văn phòng luôn cúi đầu nhận thêm mọi việc khó, việc không tên của đồng nghiệp, chỉ sau một thời gian, toàn bộ những việc xương xẩu nhất, mệt mỏi nhất sẽ mặc nhiên đổ lên đầu người đó như một bãi chứa chất thải trách nhiệm. Một người bạn luôn sẵn sàng gác lại mọi công việc riêng để chạy đến mỗi khi có ai đó gọi điện khóc lóc, than vãn, sẽ trở thành lựa chọn đầu tiên mỗi khi họ gặp rắc rối, biến thành chiếc thùng rác cảm xúc của họ, nhưng đau đớn thay, anh ta sẽ hiếm khi trở thành lựa chọn đầu tiên khi có những cơ hội tốt đẹp, những bữa tiệc vinh hoa hay những bước tiến sự nghiệp xuất hiện. Đó là bởi vì lòng biết ơn là cảm xúc ngắn hạn, còn sự quen thuộc mới là thứ tồn tại lâu dài; khi con người đã quen với việc nhận, họ không còn xem đó là ân huệ, họ chỉ xem đó là một lẽ đương nhiên của tạo hóa.

Cổ nhân đã nhìn thấu cốt tủy của điều này từ hàng ngàn năm trước, rằng giá trị không chỉ được tạo ra bằng năng lực nội tại, giá trị còn được định đoạt bởi sự khan hiếm. Một viên ngọc nằm cô đơn giữa lòng sa mạc hoang vu sẽ được người ta dùng cả tính mạng để tìm kiếm, nâng niu và cung phụng, nhưng nếu mặt đất khắp nơi dưới chân ta đều phủ đầy ngọc quý, chẳng ai còn thèm cúi xuống nhặt nữa, người ta sẽ giẫm đạp lên nó mà đi. Con người đối xử với nhau cũng y như vậy, không phải bạn bỏ ra bao nhiêu công sức sẽ quyết định vị thế của bạn, mà là thiên hạ nghĩ bạn đáng giá bao nhiêu, và đáng buồn thay, trong nhận thức của số đông mang tính bản năng, người quá dễ tiếp cận thường rất khó để được xem trọng. Để hiểu sâu sắc hơn về việc lòng tốt vô hạn có thể đẩy một con người và cả một tập thể vào thảm họa như thế nào, hãy ngược dòng thời gian trở về vào cuối thời Tây Hạ, nơi biên địa phía Tây Bắc xa xôi có một thành cổ heo hút mang tên Bạch Châu. Đó là một vùng đất khắc nghiệt, nơi quanh năm chỉ có gió gào và cát cuốn, mùa hạ nắng như thiêu như đốt khiến mặt đất nứt toác, mùa đông cái lạnh thấu xương tạo nên những âm thanh rú rít ghê rợn như tiếng than khóc trong đêm tối. Người dân nơi đây sống kiếp đời lầm lũi, và nguồn sống duy nhất giúp họ bám trụ lại vùng đất chết này là một giếng nước cổ nằm ngay trung tâm thành, điều kỳ lạ là dù hạn hán có kéo dài bao nhiêu năm, giếng cổ ấy vẫn chưa từng cạn nước. Người được giao nhiệm vụ trông coi giếng nước ấy tên là Kỷ Tẩm, công việc mỗi ngày của ông vô cùng tầm thường là quét dọn lá khô, kiểm tra thành giếng và giúp đỡ người dân kéo nước từ lòng đất sâu thẳm lên. Bản tính Kỷ Tẩm lại là một người hiền lành, nhân hậu hiếm thấy trên đời, ai đến xin nước ông cũng cười xòa giúp đỡ, ai nhờ khuân vác hàng hóa nặng nề ông cũng nhận lời, kẻ cần người dẫn đường băng qua sa mạc ông liền thu xếp đi cùng, thậm chí đêm đông gió tuyết mịt mù có lão nhân cô độc lên cơn bạo bệnh, ông đã một mình cõng ông cụ đi bộ hơn mười dặm đường đá sỏi để tìm thầy thuốc. Ban đầu, lòng tốt của Kỷ Tẩm như một đốm lửa sưởi ấm cả thành cổ lạnh giá, đi đến đâu ông cũng nhận được những lời cảm kích nghẹn ngào, người ta gọi ông là vị bồ tát sống của Bạch Châu.

Nhưng bánh xe thời gian tàn nhẫn trôi qua, và lòng người bắt đầu thay đổi một cách đáng sợ khi những lời cảm kích thưa thớt dần rồi biến mất hoàn toàn. Người ta bắt đầu xem sự giúp đỡ, xem mồ hôi và máu của Kỷ Tẩm là một chuyện đương nhiên phải thế; khi cần dọn dẹp chuồng ngựa họ gọi Kỷ Tẩm, khi có việc nặng nhọc, nguy hiểm không ai muốn làm họ gọi Kỷ Tẩm, thậm chí khi đơn giản chỉ là một gã lười biếng muốn có người chạy chân mua hộ vò rượu gã cũng đứng đầu ngõ gọi tên ông. Trẻ con trong thành bắt đầu đặt cho ông một biệt danh đầy giễu cợt là "Kỷ chạy việc", mỗi lần thấy dáng người gầy gò của ông đi ngang qua con phố, lũ trẻ lại chạy sau lưng cười đùa hò hét mà người lớn đứng hai bên đường nghe thấy không một ai đứng ra quở trách, họ chỉ mỉm cười một nụ cười đầy sự dửng dưng và coi thường. Một nghịch lý đau đớn hiện hữu là ông càng giúp đỡ nhiều thì vị thế của ông trong thành càng thấp kém, ông càng nhiệt tình quên mình thì người đời càng xem nhẹ ông, ông trở thành một sự tồn tại mờ nhạt, một cái bóng tiện ích mà người ta chỉ nhớ đến khi gặp rắc rối và sẵn sàng quên sạch khi giông bão đi qua. Cho đến một năm nọ, một thảm họa đại hạn kinh hoàng chưa từng có trong lịch sử ập xuống vùng biên địa, mùa xuân trôi qua không một giọt sương, mùa hạ tới với những luồng gió lửa thiêu đốt bầu trời, ruộng đồng nứt nẻ sâu hoắm, gia súc chết hàng loạt và từng giếng nước trong vùng lần lượt khô cạn tận đáy. Người dân Bạch Châu rơi vào cảnh hoảng loạn tột độ, trong cơn khát cháy họng, họ dẫm đạp lên nhau kéo phe kéo cánh đổ về giếng cổ giữa thành thì phát hiện nước trong giếng cổ của Kỷ Tẩm vẫn còn, dòng nước mát lành ấy vẫn âm thầm rỉ ra từ kẽ đá đủ để duy trì hơi thở cho cả thành. Tin tức ấy lan nhanh khiến người dân từ các thôn làng lân cận, các toán lữ hành, các bộ tộc du mục cũng rầm rập kéo đến xin nước và tất cả mọi người đều nghĩ rằng Kỷ Tẩm sẽ tiếp tục như mọi khi, ai đến cũng cho nước, ai xin cũng múc đầy gàu, bất chấp ngày đêm.

Nhưng sáng hôm sau, một cảnh tượng chưa từng có xảy ra khi trước miệng giếng cổ xuất hiện một hàng rào gỗ kiên cố cùng một tấm bảng gỗ lớn khắc những dòng chữ đen kịt, lạnh lùng quy định mỗi gia đình chỉ được lấy một lượng nước nhất định, mọi người phải tự xếp hàng, tuyệt đối không được tích trữ, mua bán, và giếng chỉ mở cửa vào một vài canh giờ cố định trong ngày. Đám đông lập tức bùng nổ một làn sóng bất mãn dữ dội, một gã thương nhân giàu có mặt đỏ gay chỉ thẳng tay vào mặt Kỷ Tẩm quát lớn rằng chẳng qua ông chỉ là một kẻ giữ giếng hèn mọn, có tư cách gì mà đặt ra quy định gây khó dễ, keo kiệt với mạng sống của đồng bào. Trước những lời chửi bới, sỉ vả xúc phạm ấy, Kỷ Tẩm không hề nao núng, ông đứng thẳng người, ánh mắt nhìn thẳng vào đám đông đang phẫn nộ, giọng nói trầm ấm nhưng vang vọng, đanh thép đáp rằng trước đây nước đủ cho mọi người, bây giờ nước không đủ cho lòng tham của mọi người. Mặc cho những lời chỉ trích ngày một nhiều, mặc cho có kẻ mắng ông là kẻ độc đoán, tham quyền, Kỷ Tẩm vẫn bất động như một pho tượng đá ngày này qua ngày khác ngồi trước miệng giếng giữ nguyên quy định. Một tháng, rồi hai tháng, rồi ba tháng trôi qua, ở các thành trì lân cận đã xuất hiện cảnh tượng tàn nhẫn người ta cầm vũ khí chém giết lẫn nhau chỉ để tranh giành một vũng nước đục ngầu, thế nhưng bên trong bức tường thành Bạch Châu, nhờ có hàng rào của Kỷ Tẩm mà nguồn nước được phân phối đều đặn, mỗi người dân tuy có chút thèm khát nhưng vẫn đủ để duy trì cuộc sống, không một ai phải chết vì khát, không có một cuộc bạo loạn nào xảy ra. Đến tháng thứ tư, những kẻ từng đứng trước miệng giếng chửi bới ông hung hăng nhất bắt đầu cúi đầu im lặng khi nhận ra một sự thật phũ phàng là nếu ngày đầu tiên của nạn hạn hán, Kỷ Tẩm tiếp tục là người tốt theo kiểu cũ, chiều theo ý muốn của đám đông thì giếng cổ ấy đã bị vét sạch và cả thành Bạch Châu đã biến thành những xác khô trên cát từ lâu. Thứ cứu sống họ vượt qua ranh giới của sự diệt vong hóa ra không phải là lòng tốt vô hạn, vô định hướng, mà chính là sự giới hạn đúng lúc.

Một buổi chiều cuối hạ, vị quan Chi phủ của châu quận đi tuần thú qua thành Bạch Châu nghe chuyện liền tìm gặp Kỷ Tẩm và hỏi điều gì đã khiến một người vốn nổi tiếng hiền lành, nhu nhược như ông lại thay đổi trở nên cứng rắn đến vậy, Kỷ Tẩm nhìn xuống mặt nước giếng tĩnh lặng rồi chậm rãi đáp rằng ông chưa từng thay đổi, thứ thay đổi không phải là ông, mà là cách người khác nhìn nhận giá trị của giếng nước này. Những năm trước họ nghĩ nước giếng là thứ vô tận nên họ phung phí và coi thường nó, năm nay khi hoang mạc khô cằn họ mới biết nước là hữu hạn; trước đây họ cũng nghĩ thời gian, công sức và cuộc đời của ông là vô hạn nên họ chiếm đoạt, sử dụng thời gian của ông như cách họ phung phí nước vậy, chỉ khi mọi thứ trở nên khan hiếm và có giới hạn, con người mới học được bài học về sự trân trọng. Vị Chi phủ lặng người đi trước câu trả lời thấu triệt nhân tâm ấy. Mùa thu năm đó, cơn mưa rào đầu tiên đổ xuống sau bao ngày mong mỏi khiến cả thành reo hò vang dội, Bạch Châu đã thực sự được cứu sống và vài ngày sau, dân làng tập trung rất đông trước giếng cổ mang theo lương thực, vải vóc kính cẩn cúi đầu cảm tạ ông. Vị lão nhân chống gậy từng mắng ông keo kiệt năm xưa giờ cúi gập tấm lưng còng xuống thật sâu run run nói rằng họ từng nghĩ ông ích kỷ giữ nước cho riêng mình, nhưng đến hôm nay mới hiểu ông đang giữ mạng sống cho cả cái thành cổ này, Kỷ Tẩm mỉm cười nhẹ nhàng nhìn xuống lòng giếng rồi nói câu nói được truyền tụng lại suốt nhiều thế hệ rằng khi ngươi cho đi vô hạn, người khác sẽ mặc định nghĩ rằng ngươi có vô hạn, và khi họ nghĩ ngươi có vô hạn, giá trị của ngươi sẽ trở về bằng không. Câu chuyện của Kỷ Tẩm là câu chuyện về ranh giới của sự sinh tồn vật chất, còn câu chuyện diễn ra vào đầu thời Ngũ Đại Thập Quốc trên đỉnh Hàn Vũ Sơn lại cho chúng ta thấy việc ôm đồm trách nhiệm của người khác có thể bức tử những điều quý giá nhất của chúng ta như thế nào.

Hàn Vũ Sơn là một ngọn núi cao ngất ngưỡng nằm án ngữ ngay giữa ranh giới của hai châu phủ lớn, đỉnh núi quanh năm mây mù bao phủ, đường lên núi dốc đứng men theo vách đá dựng đứng vô cùng nguy hiểm nhưng nơi ấy lại giữ một vai trò mang tính sống còn khi đặt một trạm truyền tin bằng chim bồ câu đưa thư nối liền các đại bản doanh chiến lược. Người quản lý trạm chim ấy tên là Mộc Nghiêu, ông xuất thân từ một gia đình bần hàn nhưng lại được trời phú cho khả năng huấn luyện chim bồ câu truyền tin đạt đến mức thượng thừa, những con chim qua tay ông có thể bay xuyên qua những trận bão tuyết hoang dã để tìm chính xác địa điểm cách xa hàng trăm dặm. Tuy nhiên, điều khiến mọi người xung quanh yêu mến Mộc Nghiêu không phải là tài năng của ông, mà là tính cách hiền lành đến mức nhu nhược khi trong từ điển cuộc sống của ông chưa từng tồn tại hai chữ "từ chối". Một viên quan nhỏ muốn gửi một bức thư riêng đầy những lời hỏi thăm sến sẩm cho người thiếp thất, ông nhận lời giúp; một đại thương nhân muốn nhờ chim chuyển gấp một bản hợp đồng mua bán tư nhân ngoài quy định quân đội, ông vì nể nang cũng gật đầu nhận; thậm chí một đôi trai gái yêu nhau lén lút muốn gửi thư tình hay người dân dưới núi có bất cứ việc vụn vặt gì họ đều kéo nhau lên nhờ Mộc Nghiêu phát chuyển. Ban đầu, Mộc Nghiêu cảm thấy cuộc sống của mình thật ý nghĩa khi nhìn thấy niềm vui trên gương mặt của những người nhờ vả, nhưng lòng tham và sự thuận tiện của con người là một cái hố không đáy khi người ta phát hiện ra trạm chim của ông là một dịch vụ miễn phí, tận tụy và không bao giờ từ chối. Những lá thư tư nhân bắt đầu đổ về như thác lũ khiến lịch trình bay của đàn chim bị xáo trộn hoàn toàn, chúng phải cất cánh liên tục ba, bốn lần mỗi ngày thay vì một lần mang công văn khẩn theo đúng quy định. Ban đêm khi người khác đã chăn êm nệm ấm thì mắt Mộc Nghiêu đỏ ngầu dưới ánh đèn dầu leo lét để buộc từng ống thư nhỏ vào chân chim, trời còn chưa sáng đã phải thức dậy kiểm tra sức khỏe của từng con, ngay cả những ngày mưa gió bão bùng sấm chớp đùng đùng ông cũng không dám nghỉ ngơi. Công việc nặng nề đè nặng lên đôi vai gầy gò khiến tóc ông bạc đi trước tuổi nhưng vị thế và sự trân trọng của người đời dành cho ông hoàn toàn không tăng lên, họ dần xem đó là trách nhiệm hiển nhiên của ông, thậm chí có lần do thời tiết quá xấu một bức thư tư nhân bị chậm một ngày, gã thương gia liền hùng hổ leo lên núi đập bàn đập ghế chỉ vào mặt ông chửi bới vô trách nhiệm làm tổn hại đến việc làm ăn của gã.

Mộc Nghiêu cảm thấy tinh thần và thể xác mình rơi vào trạng thái kiệt quệ, mệt mỏi tột cùng, nhưng cái xiềng xích mang tên người tốt vẫn khóa chặt miệng ông cho đến một ngày mùa đông lạnh giá, một sự việc thảm khốc xảy ra với Thanh Dực – chú chim bồ câu có bộ lông màu xanh xám, đôi mắt sáng quắc và là chiến thần bay nhanh nhất, thông minh nhất của trạm đã từng ba lần vượt bão tuyết mang sắc phong cứu viện cứu sống hàng vạn binh sĩ. Hôm ấy, một vị phú thương giàu có bí mật mang theo một túi bạc nặng trĩu đặt lên bàn muốn gửi một loạt thư tín thương mại quan trọng vượt quá tải trọng của trạm, Mộc Nghiêu lưỡng lự rất lâu nhưng thói quen không biết từ chối lại chiến thắng và để kịp thời gian, ông đã phạm phải sai lầm chí mạng khi lấy Thanh Dực ra và tham lam buộc thêm ba ống thư dày đặc lên cả hai chân của chú chim nhỏ. Thanh Dực nhìn ông bằng đôi mắt buồn bã rồi vỗ cánh bay vút vào màn sương mù dày đặc của buổi sáng mùa đông và nó không bao giờ trở lại; đến ngày thứ tư, người ta tìm thấy xác của Thanh Dực nằm lạnh ngắt dưới đáy của một vách núi sâu, đôi cánh dũng mãnh gãy nát, dính đầy máu khô nhưng trên đôi chân gầy nhỏ của nó, những ống thư tư nhân chứa đầy những toan tính tiền bạc của gã thương nhân vẫn còn nguyên vẹn, trĩu nặng. Mộc Nghiêu chết lặng hoàn toàn, ông ôm xác Thanh Dực vào lòng quỳ sụp xuống giữa làn sương tuyết, nước mắt trào ra nóng hổi mang xác nó về trạm và ngồi bất động bên cạnh suốt cả đêm thâu trong nỗi ân hận cào xé tâm can. Đúng lúc ấy, Hàn Thúc – vị trưởng trạm tiền nhiệm đã nghỉ hưu tóc trắng như cước chống gậy bước vào, lão nhân nhẹ nhàng kiểm tra từng chiếc xương gãy, từng ống thư còn buộc chặt trên chân Thanh Dực rồi thở dài một tiếng đầy xót xa. Mộc Nghiêu ngước đôi mắt đỏ hoe hỏi có phải Thanh Dực chết vì trận bão tuyết hay gặp phải diều hâu không, Hàn Thúc chậm rãi lắc đầu đáp rằng con chim này không chết vì bão tuyết, cũng chẳng phải vì diều hâu, nó chết vì nó phải mang trên mình quá nhiều thứ không thuộc về trách nhiệm của nó.

Câu nói ấy như một tia sét rạch ngang bầu trời đêm đánh thẳng vào tâm trí đang u mê của Mộc Nghiêu, khiến ông ngồi bất động như một khối đá khi trong đầu hiện lên cuốn phim quay chậm về suốt những năm tháng qua với những lá thư riêng tư, những việc bao đồng ngoài trách nhiệm và gương mặt nhu nhược không bao giờ dám nói lời từ chối của chính mình. Ông đột nhiên bừng tỉnh và nhận ra một sự thật kinh hoàng là chính ông cũng đang là một con chim Thanh Dực thứ hai, tự nghiền nát cuộc đời mình để gánh trên vai vô số thứ không thuộc về mình: Nỗi mong đợi ích kỷ của người khác, sự lười biếng của người khác, trách nhiệm của người khác, và cả những nhu cầu mà đáng lẽ ra họ phải tự giải quyết. Ngày hôm sau, Mộc Nghiêu đưa ra một quyết định khiến cho toàn bộ quan lại và thương nhân dưới chân núi chấn động khi đóng một tấm bảng mới ngay trước cổng trạm truyền tin, viết rõ trạm chỉ tiếp nhận công văn quân đội và triều đình, tuyệt đối từ chối mọi thư từ tư nhân bất kể tiền bạc, và trạm đóng cửa ngừng tiếp nhận sau canh năm mỗi ngày. Làn sóng phẫn nộ và oán trách lập tiếp bùng lên dưới chân núi, người ta dùng những lời lẽ cay độc để nói rằng ông thay đổi trở nên kiêu ngạo, máu lạnh, quên mất cái ơn ngày xưa khi còn nghèo khổ, nhưng lần này Mộc Nghiêu giữ một sự im lặng tuyệt đối, dành trọn vẹn thời gian thu hồi lại được để dọn dẹp chuồng chim, nghiên cứu kỹ lưỡng các phương pháp huấn luyện mới và kiểm tra sức khỏe của từng con chim một. Ba tháng trôi qua, số lượng công văn bị thất lạc hay chậm trễ giảm xuống bằng không, thời gian giao thư nhanh hơn trước gấp hai lần, và một năm sau trạm truyền tin Hàn Vũ Sơn trở thành trạm truyền tin hiệu quả, xuất sắc nhất toàn cõi đất nước khiến tên tuổi của Mộc Nghiêu kinh động đến kinh thành, người ta nhắc đến ông không phải vì ông là một người tốt dễ bảo, mà vì ông là một bậc thầy chuyên nghiệp, xuất sắc. Hai năm sau, một đoàn quan viên xa giá của triều đình rầm rộ tiến lên núi mang theo thánh chỉ của hoàng đế bổ nhiệm ông vào chức Tổng quản hệ thống truyền tin chiến lược cho cả ba châu lộ lớn. Ngày nhận chiếu chỉ, Mộc Nghiêu đứng trên đỉnh núi cao nhìn đàn chim sải cánh bay lượn giữa bầu trời hoàng hôn rực rỡ, Hàn Thúc nhìn ông mỉm cười nói rằng sở dĩ cuối cùng thiên hạ lại kính cẩn coi trọng ông như ngày hôm nay là bởi vì những năm trước ông dành cả cuộc đời dâng hiến toàn bộ thời gian để làm những việc bao đồng của người khác, còn bây giờ ông biết giữ giới hạn để làm thật tốt việc của chính mình. Mộc Nghiêu khẽ gật đầu, hiểu ra bài học xương máu ấy và trước khi rời đi nhận chức vụ mới, ông đã dùng dao khắc lại một câu nói trên cây cột chính của trạm chim làm lời cảnh tỉnh cho thế hệ sau: "Kẻ nào mang quá nhiều việc của thiên hạ trên vai, kẻ đó sẽ đánh mất việc của chính mình."

Hai điển tích cổ của Kỷ Tẩm và Mộc Nghiêu không đơn thuần là những câu chuyện kể chuyện xưa tích cũ để giải trí, mà là những lăng kính triết học sắc bén soi rọi thẳng vào thực tại của thế kỷ chúng ta khi người ta thường băn khoăn liệu người khôn ngoan là phải sống một cuộc đời ích kỷ, lạnh lùng, quay lưng từ chối tất cả mọi người sao. Câu trả lời chắc chắn là không, bởi điều cổ nhân muốn truyền dạy cho chúng ta không phải là sự vô tình, tàn nhẫn mà là nghệ thuật dựng ranh giới, khi mà "giả bận" không phải là một sự lừa dối đê hèn mà là một loại trí tuệ sinh tồn, là khả năng giữ cho người khác hiểu rằng thời gian của bạn là tài sản có giá trị, có giới hạn và phải trả giá bằng sự tôn trọng mới có thể chạm vào, vì người khác sẽ đối xử với bạn theo đúng cái cách mà bạn tự dạy họ đối xử với chính mình. Để làm được điều đó, người khôn ngoan luôn áp dụng nhuần nhuyễn năm nguyên tắc cốt lõi, mà nguyên tắc thứ nhất là không phản hồi ngay lập tức mọi yêu cầu để tránh gửi đi một tín hiệu vô thức vô cùng nguy hiểm đến đối phương rằng bạn đang hoàn toàn trống rỗng và phụ thuộc vào sự điều khiển của họ; họ luôn tạo ra một khoảng dừng chiến thuật để bảo vệ sự tập trung sâu sắc của trí tuệ và khẳng định cái uy nghiêm của thời gian cá nhân. Nguyên tắc thứ hai là không ôm đồm, nhận mọi việc về mình, bởi vì càng sợ mất lòng thiên hạ thì bạn càng nhanh chóng đánh mất chính bản thân mình; giống như những cây cổ thụ ngàn năm trên đỉnh núi cao không bao giờ cố dang cành lá để che mát cho toàn bộ khu rừng rộng lớn, chúng chỉ tập trung cắm sâu rễ vào lòng đất, đứng thật vững chãi ở ngay vị trí của mình và tỏa bóng mát tốt nhất cho khoảng không gian xung quanh nó. Nguyên tắc thứ ba là không xuất hiện ở mọi nơi, trong mọi cuộc vui vô bổ hay mọi cuộc tranh luận hơn thua, bởi vì thứ gì xuất hiện quá nhiều, quá dễ dàng nhìn thấy sẽ tự động đánh mất đi sức nặng của mình, giống như vầng trăng khuyết ẩn hiện sau làn mây mờ mới khiến người đời phải ngước nhìn và mòn mỏi chờ đợi, sự hiện diện có khoảng cách mới là sự hiện diện có trọng lượng. Nguyên tắc thứ tư là không để người khác biết mình đang quá rảnh rỗi, không liên tục hiển thị trạng thái hoạt động hay phát đi tín hiệu trống trải để tránh xây dựng trong nhận thức của những người xung quanh một lối mòn tư duy coi bạn là công cụ miễn phí, từ đó giữ cho lịch trình của mình một bức màn mật mã bảo vệ thánh địa cuộc đời. Và nguyên tắc thứ năm, quan trọng nhất, chính là thiết lập giới hạn tuyệt đối cho thời gian cá nhân, có một thái độ quyết liệt trong việc bảo vệ thời gian của bản thân khi làm việc, khi học tập hay khi ở bên gia đình, bởi họ thấu hiểu một sự thật lạnh lùng của tạo hóa là tiền bạc, danh tiếng, quyền lực bị mất đi đều có cơ hội kiếm lại hoặc xây dựng lại, nhưng thời gian một khi đã trôi tuột khỏi kẽ tay sẽ vĩnh viễn tan biến vào hư không, không một thế lực nào có thể kéo nó quay trở lại dù chỉ một tích tắc.

Sau tất cả những tầng triết lý và những câu chuyện thâm sâu ấy, có lẽ điều đáng để chúng ta phải dừng lại suy ngẫm sâu sắc nhất, đau đớn nhất, nằm ở chính cuộc đời của mỗi chúng ta khi nhìn lại xem có phải mình đang gồng mình lên để làm một Kỷ Tẩm nhu nhược hay một Mộc Nghiêu tội nghiệp, dành phần lớn quỹ thời gian ngắn ngủi của một kiếp người chỉ để chạy theo đáp ứng những kỳ vọng, đòi hỏi vô tận của người khác. Chúng ta tất bật ngược xuôi, xoay vần như một con chong chóng trước gió, đầu óc luôn căng thẳng, cơ thể luôn mệt mỏi nhưng càng bận rộn như thế, trong lòng càng cảm thấy trống rỗng, lạnh lẽo, càng cố gắng làm hài lòng tất cả mọi người thì chúng ta càng đánh mất chính mình. Cổ nhân từng răn dạy rằng trên đời này có ba thứ một khi đã ra đi thì tuyệt đối không bao giờ có thể lấy lại được là mũi tên đã bắn khỏi dây cung, lời nói đã thốt ra khỏi miệng và thời gian đã trôi qua khỏi cuộc đời, thế nhưng chúng ta lại bảo vệ tiền bạc, của cải vật chất vô cùng kỹ lưỡng khi một đồng bạc bị đánh rơi có thể khiến ta xót xa dằn vặt cả tuần trời, còn một giờ đồng hồ, một buổi chiều, thậm chí là vài năm thanh xuân bị người khác lãng phí, chiếm đoạt một cách vô lý cho những việc bao đồng thì lại tặc lưỡi bỏ qua, xem đó là cái giá của sự dĩ hòa vi quý. Đó chính là nghịch lý, là sự mù quáng lớn nhất của đời người khi tiền bạc có thể kiếm lại nhưng tuổi trẻ một khi đã qua đi thì vĩnh viễn nằm lại dưới nấm mồ thời gian, và khi mái tóc đã điểm hoa râm ngoảnh đầu nhìn lại chặng đường đã qua, ta bàng hoàng phát hiện ra phần lớn cuộc đời mình đã được dùng để sống vì mục tiêu của người khác chứ chưa từng một ngày thực sự sống cho sứ mệnh của bản thân. Người khôn ngoan chọn cách giả bận không phải vì họ thích thể hiện cái tôi cao ngạo, mà vì họ đã thấu suốt một sự thật trần trụi của nhân thế là ai trên đời này cũng muốn chiếm đoạt thời gian của bạn nhưng không phải ai cũng trân trọng quỹ thời gian đó, từ những kẻ tìm đến bạn chỉ vì đang gặp rắc rối cần một công cụ miễn phí giải quyết hộ rồi lập tức quay lưng biến mất, cho đến những kẻ liên tục hút cạn sự chú ý, năng lượng sống của bạn nhưng chưa từng một lần dừng lại hỏi bạn có mệt không. Đây không phải là lời trách cứ, oán hận cuộc đời mà đơn giản chỉ là bản chất tự nhiên, là phần ích kỷ vô thức trong tâm tính của con người khi ai sống trên đời này cũng đều ưu tiên cho nhu cầu của bản thân mình trước tiên và muốn tiết kiệm thời gian của mình bằng cách chiếm dụng thời gian của người khác; vì thế, nếu chính bạn không đứng lên dựng hàng rào để bảo vệ cuộc đời của chính mình thì tuyệt đối sẽ không một ai trên thế giới này làm điều đó thay bạn. Điều đáng sợ nhất, đáng thương nhất trên đời không phải là việc bạn bị người khác lợi dụng một vài lần, mà là bạn bị lợi dụng quá lâu đến mức chính tâm trí bạn bị thuần hóa, bị thao túng và tự mặc định xem sự bất công đó là nghĩa vụ, là trách nhiệm thiêng liêng của mình để rồi khi màn đêm buông xuống, ngồi đối diện với bức tường cô độc mới bàng hoàng nhận ra mình chưa từng được tự do theo đuổi cái ước mơ cháy bỏng, chưa từng được sống cuộc đời mà mình thực sự khát khao. Cổ nhân không bao giờ dạy chúng ta trở thành những kẻ vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, họ chỉ muốn dùng những bài học xương máu để thức tỉnh chúng ta rằng lòng tốt của con người phải có giới hạn, sự nhiệt tình phải có ranh giới, và sự hy sinh cũng phải có điểm dừng, bởi vì bất kỳ một điều tốt đẹp nào trên đời này nếu không được đặt trong một giới hạn nghiêm khắc đều sẽ biến chất và trở thành nguồn gốc cho sự xem thường, giống như một dòng sông hiền hòa nếu không có đôi bờ kiên cố giữ lại sẽ biến thành một trận thiên tai tàn khốc khi mùa lũ về, một ngọn lửa ấm áp sưởi ấm đêm đông nếu không có vòng đá giới hạn giữ lại sẽ bùng lên thành một trận đại hỏa hoạn thiêu rụi cả tòa thành trì, và một con người lương thiện nếu không tự dựng lên cho mình một ranh giới tôn nghiêm sẽ tự biến cuộc đời mình thành một chiếc thảm lau chân để cho thiên hạ giẫm đạp, phung phí một cách rẻ rúng. Cốt lõi sâu sắc nhất của nghệ thuật giả bận hoàn toàn không nằm ở việc bạn cố tình tạo ra một vẻ bề ngoài tất bật giả tạo để lòe thiên hạ, mà nó nằm ở một cảnh giới nội tâm cao hơn là sống một cuộc đời có trọng tâm rõ ràng, để khi cuộc đời bạn đã xác định được một lý tưởng, một mục tiêu lớn lao, bạn sẽ tự khắc thấy rằng quỹ thời gian của mình là cực kỳ khan hiếm, không còn dư thừa lấy một phút giây để đi chiều lòng tất cả mọi người xung quanh, từ đó không còn cảm thấy cắn rứt lương tâm hay tội lỗi mỗi khi thẳng thắn nói lời từ chối với những yêu cầu vô lý của thế gian. Khi bạn học được cách trân trọng, cách cầm vũ khí lên để bảo vệ thời gian của mình thì thiên hạ ngoài kia cũng sẽ tự động học được cách phải khép nép, tôn trọng trước quỹ thời gian quý giá đó, giúp bạn không bị kéo xuống, không bị nhấn chìm bởi những điều tầm thường, vụn vặt và không đáng của cuộc đời, từ đó giữ được năng lượng tinh sạch của tâm hồn, giữ được giá trị độc bản của bản thân, giữ được sự tôn trọng lâu dài của vạn vật, và điều quan trọng nhất là giữ vững được quyền làm chủ tuyệt đối đối với con thuyền vận mệnh của chính cuộc đời mình.


TrendingMore

Xem thêm